|
|
Bệnh thuỷ đậu và cách xử trí9/8/2011 4:16:27 PM Bệnh thủy đậu (trái rạ) do virus Varicelle Zoster gây nên, có thể bị quanh năm nhưng thường gặp nhiều khi thời tiết thay đổi. Bệnh xảy ra phần lớn ở trẻ em (90%), lây lan cao qua đường hô lấp (80-90%) và chỉ lây cho người lần đầu mắc bệnh vì có tính miễn dịch rất cao, ít khi bị bệnh lần 2. Bệnh thường lành tính ở trẻ em, nhưng khá nặng khi gặp ở người lớn với tỷ lệ tử vong 2-25/100.000.
 |
| Ảnh minh họa: Corbis |
Thời kỳ ủ bệnh thủy đậu chừng 10-21 ngày, sau đó là 1-2 ngày sốt nhẹ, mệt mỏi, nhức đầu, khó chịu, kém ăn... Dấu hiệu để nhận biết bệnh là các nốt ban hồng đường kính vài mm, sau đó xuất hiện các phỏng nước trên toàn thân của trẻ. Đặc biệt, các nốt phỏng có thể có ở niêm mạc miệng, thực quản đường hô hấp trên và kết mạc, rất ngứa rối sẽ xẹp dần và khô sau chừng 4 ngày do nước bị cơ thể hấp thu lại.
Các nốt thủy đậu mọc làm nhiều đợt nên ta có thể thấy đồng thời trên cơ thể nhiều giai đoạn khác nhau của ban phỏng nước, tập trung ở thân mình nhiều hơn ở chi và mặt (đây là điểm khác biệt so với bệnh đậu mùa). Bệnh rất dễ lây do tiếp xúc trực tiếp hay lan truyền qua đường hộ hấp bởi nước bọt và các chất tiết đường hô hấp do người bệnh ho, hắt hơi... trong thời gian 2 - 5 ngày trước khi phát ban và kéo dài đến khi nốt đậu đóng vẩy.
Do vậy, người bị mắc bệnh cần được cách ly tiếp xúc với người ngoài trong vòng 7-10 ngày và trẻ em dưới 12 tuổi nên được chủng ngừa.
Vì vaccine không có hiệu quả suốt đời và chỉ có hiệu quả phòng bệnh 70-88% nên ngoài việc tiêm chủng ngay sau khi sinh, trẻ em còn cần được tiêm nhắc lại sau 14 tháng. Phụ nữ có thai bị nhiễm bệnh trong thời kỳ đầu mang thai có thể gây ra các dị tật bẩm sinh ở trẻ. Trẻ nhỏ mắc bệnh nhẹ hơn trẻ lớn, với thể thông thường không có biến chứng thì bệnh sẽ tự khỏi trong vòng 10 ngày.
Biến chứng
Các biến chứng hay gặp nhất là bội nhiễm da do nốt phỏng bị vỡ hoặc do trẻ gãi hay dịch nước hóa mủ. Viêm phổi gặp ở 20-30% người bệnh. Biến chứng nặng nhất là viêm não do thủy đậu, gặp ở 0,1-0,2% và thường rất nặng ở người lớn. Các biến chứng như: giảm tiểu cầu, viêm tủy cắt ngang, liệt thần kinh mặt, rối loạn tiểu não, hội chứng Reye, viêm cơ tim, viêm thận, viêm gan, viêm đa rễ thần kinh... ít gặp hơn.
Để chẩn đoán chính xác bệnh thủy đậu, cần phết tổn thương lên kính và soi tìm tế bào đa nhân khổng lồ, phân lập virus từ tổn thương hay sử dụng các phản ứng huyết thanh như ELISA, miễn dịch huỳnh quang, phản ứng kết hợp bổ thể...
Các bài viết khác
|
|
|